FOLK CONSCIOUSNESS OF CAUSE-EFFECT (HETU-PHALA) AND KAMMA-VIPAKA ¯ IN THE FAIRY TALE OF THACH SANH

Main Article Content

Tam Minh Nguyen

Abstract

This study sought to provide the basis for the formation and manifestation of Vietnamese folk consciousness in terms of causeeffect (hetu-phala) and kamma-vipaka ¯ in the story of Thach Sanh. The motif theory in folklore studies was used to reveal similarities as well as differences between the story of Thach Sanh and other domestic and foreign folktales having the same motifs. Therefore, these findings indicated that cause-effect and kamma-vipaka ¯ in Vietnamese folk consciousness contain not only common characteristics to different cultures but also specific creations of Vietnamese people, in which the acculturation of the Buddhist philosophy of cause-effect and kamma-vipaka ¯ in Vietnamese folk consciousness is one of the most distinctive features. Moreover, Vietnamese folk consciousness of cause-effect and kamma-vipaka ¯ could be considered as a harmonious combination of internal and external factors, which reflects the openness of Vietnamese culture and highly creative acculturational ability.

Downloads

Download data is not yet available.

Article Details

How to Cite
Nguyen, T. (2020) “FOLK CONSCIOUSNESS OF CAUSE-EFFECT (HETU-PHALA) AND KAMMA-VIPAKA ¯ IN THE FAIRY TALE OF THACH SANH”, The Scientific Journal of Tra Vinh University, 1(41), pp. 58-67. doi: 10.35382/18594816.1.41.2020.644.
Section
Articles

References

[1] Nguyễn Đổng Chi. Kho tàng truyện dân gian Việt
Nam. Tập 1. Hà Nội: Nhà Xuất bản Giáo dục; 2000.
[2] Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam I: Từ khởi
nguyên đến thời Lý Nam Đế (544). Xuất bản lần thứ
2. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Thành phố
Hồ Chí Minh; 2003.
[3] Lê Ngọc Trà (tập hợp và giới thiệu). Văn hoá Việt
Nam: Đặc trưng và cách tiếp cận. Hà Nội: Nhà Xuất
bản Giáo dục; 2001.
[4] Trần Quốc Vượng. Văn hoá Việt Nam: Tìm tòi và suy
ngẫm. Hà Nội: Nhà Xuất bản Văn hoá Dân tộc; 2000.
[5] Chu Xuân Diên. Đọc lại Kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam từ một quan niệm rộng về hiện thực trong
truyện cổ tích. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển.
2015. 2(119):12–24.
[6] Nguyễn Anh Dũng. Triết lý nhân sinh trong truyện cổ
tích Việt Nam [Luận văn Thạc sĩ]. Đại học Đà Nẵng;
2015.
[7] Lê Thị Ngọc Điệp. Sự hội nhập của Phật giáo trong
văn hoá dân gian Việt Nam. Trong: Trương Văn
Chung và cộng sự (biên tập). Phật giáo vùng Mê-
Kông: Lịch sử & Hội nhập. Thành phố Hồ Chí Minh:
Nhà Xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh; 2015: 396–408.
[8] Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo đương đại. Tôn giáo
và văn hoá: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Hà
Nội: Nhà Xuất bản Tôn giáo; 2014.
[9] Thomas A Green. Folklore: An encyclopedia of beliefs, customs, tales, music, and art. Abc-clio; 1997;
1.
[10] Vũ Ngọc Khánh. Nghiên cứu văn hoá cổ truyền Việt
Nam. Đà Nẵng: Nhà Xuất bản Giáo dục; 2007.
[11] Vũ Ngọc Khánh. Văn hoá dân gian. Nghệ An: Nhà
Xuất bản Nghệ An; 2003.
[12] Doãn Chính. Lịch sử triết học phương Đông. Hà Nội:
Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia; 2015.
[13] C. Sharma. Triết học Ấn Độ (Nguyễn Văn Dân dịch).
Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh; 2005.
[14] Hoành Sơn Hoàng Sỹ Quý. Triết sử Ấn Độ cổ đại:
Nhập môn Veda - Upanishad. Cà Mau: Nhà Xuất bản
Phương Đông; 2015.
[15] J. Takakusa. Tinh hoa triết học Phật giáo (Tuệ Sỹ
dịch). Cà Mau: Nhà Xuất bản Phương Đông; 2007.
[16] Narada. Đức Phật và Phật pháp (Phạm Kim Khánh
dịch). Hà Nội: Nhà Xuất bản Tôn giáo; 2010.
[17] Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Kinh Tăng Chi
bộ (Hòa thượng Thích Minh Châu dịch); 1996.
[18] Trần Quốc Vượng. Theo dòng lịch sử: Những vùng
đất, thần, người và tâm thức người Việt. Hà Nội: Nhà
Xuất bản Văn hoá; 1996.
[19] Đào Duy Anh. Việt Nam văn hoá sử cương. Thành
phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Tổng hợp Thành
phố Hồ Chí Minh; 1992.
[20] Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam.
Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản Thành phố
Hồ Chí Minh; 1996.
[21] Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận I-II-III.
Hà Nội: Nhà Xuất bản Văn học; 2010.
[22] Hoài Hương Anbert – Nguyên, Michel Espagne (chủ
biên). Việt Nam _ Một lịch sử chuyển giao văn hóa.
Hà Nội: Nhà Xuất bản Đại học Sư phạm; 2018.
[23] S. Thompson. The Folktale. New York: The Dryden
Press; 1946.
[24] J. Garry, H. El-Shamy. Archetypes and Motifs in
Folklore and Literature: a Handbook. New York:
M.E. Sharpe; 2005.
[25] C. G. Jung. Collected Works (Translated by R. F. C.
Hull) (Part I). 2nd ed. Princeton: Princeton University
Press; 1980; 9.
[26] C. G. Jung. Thăm dò tiềm thức (Vũ Đình Lưu dịch).
Hà Nội: Nhà Xuất bản Tri thức; 2016.
[27] S. Thompson. Motif-index of folk-literature: a classification of narrative elements in folk-tales, ballads,
myth, fables, mediaeval romances, exempla, fabliaux,
jest-books, and local legends. Bloomington: Indiana
University Press; 1955.
[28] Nguyễn Thị Bích Hà. Thạch Sanh và kiểu truyện dũng
sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á [Luận
án Phó Tiến sĩ]. Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội; 1996.
[29] Đinh Gia Khánh. Sơ bộ những vấn đề của truyện cổ
tích qua truyện Tấm Cám. Hà Nội: Nhà Xuất bản Văn
học; 1968.
[30] P. Taylor. The Khmer Lands of Vietnam: Environment,
Cosmology and Sovereignty. Singapore: NUS Press;
2014.
[31] Lê Thị Bích Thuỷ. Môtip xây dựng nhân vật mồ côi
trong truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam – Lào. Tạp chí
Khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội. 2017; 11(62):44–50.
[32] Nguyễn Hoa Mai. Tiếp biến, một phương thức sáng
tạo văn hoá. Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Hà
Nội. 2019; 2(64):76–83.