AN ANALYSIS OF TECHNICAL FACTORS AND FINANCIAL EFFICIENCY OF INTEGRATED IMPROVED EXTENSIVE SHRIMP FARMING SYSTEMS IN CA MAU PROVINCE, VIETNAM

Main Article Content

Kim Quyen Nguyen Thi
Van Hien Huynh
Thi Phuong Dang

Abstract

The study was conducted from May to September 2020 to evaluate technical factors and the financial efficiency of integrated shrimp farming models. Forty-five inte grated rice-shrimp rotation farming and fortyfive integrated mangrove-shrimp farming households in Ca Mau were subjects of the survey. The results show that farm sizes were relatively large (2.47-5.30 ha). Stocking density was 4.70 ind./m2 (shrimp-rice) and 17.8
ind./m2 (mangrove-shrimp), reaching the productivity of 229.3 and 267.8 kg/ha/crop, respectively. Besides, the rice-shrimp model harvested 1.36 tons/ha/crop of rice and 11.8kg/ha/crop of crab. The mangrove-shrimp model could harvest 69.3kg/ha/crop of crab, 79.3 kg of wild shrimp and 73.5 kg of wild fish. The total production cost for the rice-shrimp model was 6.80 million VND/ha/crop, producing a profit of 33.4 million VND/ha/crop. The mangrove-shrimp model required a production cost at 19.9 million VND/ha/crop and brought a profit of 60.1 million VND/ha/crop. The productivity of shrimp was influenced negatively by stocking density, positively
by cultured area (rice-shrimp model), and the ratio of forest area (for mangrove-shrimp model).

Downloads

Download data is not yet available.

Article Details

How to Cite
Nguyen Thi, K. Q., Huynh, V. H. and Dang, T. P. (2022) “AN ANALYSIS OF TECHNICAL FACTORS AND FINANCIAL EFFICIENCY OF INTEGRATED IMPROVED EXTENSIVE SHRIMP FARMING SYSTEMS IN CA MAU PROVINCE, VIETNAM”, TRA VINH UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE; ISSN: 2815-6072; E-ISSN: 2815-6099, 11(48), pp. 91-99. doi: 10.35382/tvujs.11.48.2022.1116.
Section
Articles

References

[1] VASEP. Tổng quan ngành thủy sản Việt Nam.
Truy cập từ: http://vasep.com.vn/gioi-thieu/tongquan-nganh [Ngày truy cập: 19/05/2022].
[2] Bùi Thị Nga, Lê Đình Huynh. Mô hình nuôi tôm
sinh thái ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp
chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 2015;03(53):
14–17.
[3] Viện Quản lý và Phát triển Châu Á – AMDI. Hiện
trạng phát triển tôm-lúa vùng Đồng bằng sông Cửu
Long. Báo cáo tư vấn Dự án tăng cường năng lực
cộng đồng thích ứng với biến đổi khí hậu vùng Đồng
bằng sông Mekong (USAID Mekong ARCC). Cơ quan
Phát triển Quốc tế Hoa Kì. 2016.
[4] Tổng cục Thống kê. Số liệu thống kê
nông – lâm – thủy sản. Truy cập từ:
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=717 [Ngày
truy cập 26/04/2022].
[5] Võ Nam Sơn, Bành Văn Nhẫn, Lý Văn Khánh, Trần
Ngọc Hải, Nguyễn Thanh Phương. Đánh giá hiệu quả
kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi tôm sú quảng
canh cải tiến và tôm-lúa tại huyện Thới Bình, tỉnh Cà
Mau. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ.
2018;54(3): 164–176.
[6] Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản. Báo cáo tổng
hợp: Quy hoạch nuôi tôm nước lợ vùng Đồng bằng
sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Hà
Nội: Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản. 11/2015.
[7] Duyen T. T. T, Yoshifumi T. Conservation of
mangroves through certified organic shrimp
production: are farmers willing to adopt?. Organic
Agriculture. 2020;10: 277–288. Truy cập từ:
https://doi.org/10.1007/s13165-019-00271-5.
[8] Trương Quốc Phú, Nguyễn Thanh Toàn, Mai Viết
Văn, Nguyễn Thanh Long. Hiện trạng sản xuất lâm –
ngư kết hợp ở Cà Mau. Tạp chí Khoa học Công nghệ
Biển. 2002;2: 161—173.
[9] Minh N. A., Sano M., Mizuho K. Characteristics of
integrated shrimp farming systems in the Mekong
Delta of Vietnam. Journal of Regional Fisheries.
2020;60(2): 109–119.
[10] Lê Quốc Việt, Trần Ngọc Hải. Khía cạnh kỹ thuật
và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm – rừng
ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Tạp chí Khoa học
Trường Đại học Cần Thơ. 2015;16(9): 99–105.
[11] Trương Hoàng Minh. Đánh giá khía cạnh kỹ thuật và
hiệu quả tài chính trong nuôi tôm sú theo mô hình
tôm-lúa luân canh ở tỉnh Cà Mau. Tạp chí Khoa học
Trường Đại học Cần Thơ. 2017;50: 133–139. Truy
cập từ: http://dx.doi.org/10.22144/ctu.jvn.2017.046
[12] Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Giải
pháp nâng cao tính bền vững của mô hình canh
tác tôm-lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long. 2022.
Truy cập từ: https://www.mard.gov.vn/Pages/giaiphap-nang-cao-tinh-ben-vung-cua-mo-hinh-canh-tactom–lua-vung-dong-bang-song-cuu-long-31062.aspx.
[Ngày truy cập 10/05/2022).
[13] Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam. Kế hoạch phát triển tổng thể ngành thủy sản
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Hà Nội: Văn
phòng Chính phủ. 2013: 1445/QĐ-TTg. Truy cập
từ http://extwprlegsl.fao.org/dóc/pdf/vie164823.pdf
[Ngày truy cập: 31/05/2022].
[14] Morgan A. G., Leech L. N., Gloeckner W., Gene
Barrett C. K. SPSS for introductory statistics: Use
and interpretation. Mahwah New Jersey. London:
Lawrence Erlbaum Associates Publishers; 2004.
[15] Lê Xuân Sinh. Tác động về mặt xã hội của các hoạt
động nuôi trồng thủy sản mặn lợ GH66 vùng ven
biển Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học
Trường Đại học Cần Thơ. 2006;2: 220–234.
[16] Trương Quốc Phú, Nguyễn Thanh Toàn, Mai Viết
Văn, Nguyễn Thanh Long. Hiện trạng sản xuất lâm –
ngư kết hợp ở Cà Mau. Tạp chí Khoa học Công nghệ
Biển. 2002;2: 161–173.
[17] Võ Văn Bé, Lê Ngọc Quân, Võ Quốc Trung. Tài liệu
hướng dẫn kỹ thuật nuôi tôm sú-lúa. Hà Nội: Nhà
Xuất bản Văn hóa Dân tộc; 2013.